[Print] [Quay lại]

Dấu tích sớm nhất của người Việt tại quần đảo Trường Sa (12/02/2015)
VH- 1. Từ những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ trước, Viện Khảo cổ học đã triển khai chương trình khảo cổ học Trường Sa.

Các đoàn cán bộ khảo cổ học đã phối hợp với nhiều cơ quan chức năng tiến hành điều tra và khai quật khảo cổ trên các đảo Trường Sa lớn, Nam Yết và Song Tử Tây (trong những năm 1993-1994); đảo Sơn Ca, Sinh Tồn, Phan Vinh (Hòn Sập), An Bang, Trường Sa Đông (Đá Đông), Tốc Tan, Đá Tây và Sơn Ca (năm 1999). Tính chung trong 3 đợt, đã thám sát và khai quật trên 4 đảo (Trường Sa Lớn, Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn) với tổng diện tích khai quật là 183m2. Trên các đảo còn lại: Phan Vinh, An Bang, Trường Sa Đông, Tốc Tan và Đá Tây, đoàn nghiên cứu tiến hành điều tra, quan sát địa tầng các hố đào sẵn và thu lượm hiện vật trên mặt đất.

Các đảo được thám sát và khai quật đều là các đảo san hô, có dáng hình vành khăn. Đất ở các đảo đều được hình thành bằng vụn san hô, có cấu tạo nhiều lớp: Trên cùng là đất canh tác, ở một số đảo, lớp này ngoài vụn san hô, mùn thực vật, còn có đất sét mang từ đất liền ra. Lớp giữa là đất văn hoá, được cấu tạo từ vụn san hô, phân chim, mùn thực vật có màu đen, tơi, xốp và hiện vật khảo cổ thường phát hiện ở lớp này. Dưới cùng là vụn san hô màu trắng, không có vết tích cư trú.

Trong 4 đảo được khai quật đều có tầng văn hoá là đất mùn màu đen, trong chứa hiện vật khảo cổ. Tuy nhiên, độ dày lớp văn hoá ở mỗi đảo khác nhau. Tầng văn hoá trong hố khai quật trên đảo Trường Sa Lớn, dày 20cm; trên đảo Nam Yết, dày 20cm - 30cm; trên đảo Sơn Ca, dày 10cm - 15cm; trên đảo Sinh Tồn, dày 20cm - 40cm.

Quan sát những nơi tầng văn hoá còn tương đối ổn định, kết hợp với thống kê hiện vật có thể thấy được có 2 giai đoạn phát triển khác nhau. Giai đoạn sớm tương đương với các di tích của văn hoá Sa Huỳnh muộn – Champa sớm, có niên đại khoảng một vài thế kỷ đầu Công nguyên. Giai đoạn muộn trong khoảng thời gian khá dài, từ thế kỷ 13 – 14 cho đến đầu thế kỷ 20.

Một số hình ảnh khai quật khảo cổ học tại quần đảo Trường Sa

2. Những hiện vật phát hiện trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa có số lượng khá lớn, phong phú về loại hình và chất liệu. Tổng số hiện vật thu được trong các đợt điều tra, khai quật là 498 hiện vật. Trong đó, gốm thô: 33 hiện vật, chiếm 6,62%; đồ gốm sứ các loại: 236 hiện vật, chiếm 48,00%; đồ sành: 212 hiện vật, chiếm 42,57%; mũi ngói: 1 hiện vật, chiếm 0,20% và tiền kim loại thời Nguyễn: 16 đồng, chiếm 3,21%.

Gốm thô phát hiện được ở đảo Trường Sa Lớn, chủ yếu là các mảnh vỡ (30 mảnh), 1 chì lưới và 2 hiện vật hình đĩa. Trong 30 mảnh gốm thô, có 24 mảnh màu xám, xốp, được làm từ đất sét pha cát, nên xương thô, nhẹ, độ nung chưa cao. Những đồ gốm này giống với gốm thô các di tích văn hoá Sa Huỳnh thuộc thời đại Kim khí trong các di chỉ ven biển miền Trung Việt Nam, như các di tích Bãi Ông (Cù Lao Chàm, tỉnh Quảng Nam), Xóm Ốc, Suối Chình (đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi); Hòn Tre (tỉnh Khánh Hòa), đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận).

Chiếc chì lưới hình bầu dục, hai đầu vê tròn, màu đỏ, có khắc rãnh ở thân để buộc lưới. Kích thước: dài 5cm, rộng 3,5cm, dày 1,3cm.

Hai hiện vật hình đĩa nhỏ, trong đó 1 hiện vật để trơn, 1 hiện vật trong lòng trang trí hoa văn khá phức tạp, đã phát hiện được đồng loại tại di chỉ Trà Kiệu, thuộc văn hoá Champa.

 

Gốm thô khai quật tại đảo Trường Sa lớn
 

Gốm sành Việt khai quật tại đảo Nam Yết

Đồ gốm sứ thu được 236 hiện vật, với nhiều màu men và có niên đại khác nhau từ thế kỷ 13 - 14 - 15 đến đầu thế kỷ đầu thế kỷ 20. Theo dòng men và hoa văn trang trí có các loại như sau:

Men tro (100 hiện vật), trong đó có 10 hiện vật men tro màu xanh nhạt, 25 hiện vật men tro rạn do thời gian và 41 hiện vật men tro, màu lam vẽ dưới men chủ yếu là bát, đĩa, được làm từ cao lanh, xương trắng, mỏng. Đây là loại gốm sứ cao cấp thế kỷ 13- 15. Men tro màu trứng gà, trong lòng có dấu con kê, xương gốm dày, không trang trí hoa văn (24 hiện vật) đều ở đảo Nam Yết, thế kỷ 17-18.

Men vàng chanh, thế kỷ 14 - 15 tìm được 13 mảnh ở đảo Nam Yết, trong lòng có dấu con kê, thân có hoa văn khắc chìm. Xương gốm dày, màu xám trắng, độ nung thấp, khoảng 800- 900oC.

Gốm hoa lam thế kỷ 15 - 18: 80 hiện vật, phát hiện trong hố khai quật ở đảo Trường Sa Lớn, gồm bát, đĩa, cốc, chén. Xương gốm trắng, mỏng, nhẹ. Hoa văn trang trí chủ yếu là hoa dây, cánh sen, có nguồn gốc từ miền Bắc Việt Nam.

Ngoài ra, còn 10 mảnh gốm men trắng vẽ chỉ lam quanh miệng, thuộc sứ Đồng Nai - Biên Hoà hiện đại thu lượm trong đợt II.

Gốm men trắng thế kỷ 19 – 20 có 33 hiện vật. Trong đó có 20 hiện vật thu lượm trên mặt đất đảo Song Tử Tây (đợt I) và 13 hiện vật thu lượm trong đợt II.

Đồ sành: 212 hiện vật đều là các mảnh vỡ, trong đó trên đảo Trường Sa Lớn phát hiện được 60 hiện vật; đảo Nam Yết: 152 hiện vật. Đồ sành gồm 2 loại: men da lươn 17 hiện vật và không men 195 hiện vật. Đặc biệt là có nhiều Đồ sành thời Trần có đặc điểm giống với đồ sành phát hiện tại thương cảng Vân Đồn (Quảng Ninh), thuộc vùng biển đông bắc Việt Nam.

Mũi ngói: 1 mảnh, phát hiện trong hố khai quật trên đảo Trường Sa Lớn, màu nâu đỏ, chỉ còn phần mũi phẳng, cong tròn.

Tiền kim loại: 16 đồng hình tròn, lỗ vuông, đều phát hiện trên đảo Song Tử Tây, thuộc tiền thời Minh Mạng và Tự Đức. Như vậy, hiện vật phát hiện được trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa có số lượng khá lớn, phong phú về loại hình và chất liệu.

Đồ gốm thô gần gũi với các di tích văn hoá Sa Huỳnh muộn (Sa Huỳnh, Động Cườm, Tăng Long...), Champa sớm (Trà Kiệu, Gò Cấm).

Đồ gốm sứ có 2 loại chính, không hoa lam và hoa lam. Gốm không hoa lam bên ngoài phủ men tro, xương thô, có niên đại khoảng thể kỷ 13 - 15. Đồ sứ hoa lam cùng nằm trong địa tầng với các hiện vật khác, rất gần gũi với hiện vật ở các di chỉ: Xuân Giang (Nghi Xuân - Hà Tĩnh), Hợp Lễ (Hải Dương), Vân Đồn (Quảng Ninh), có niên đại khoảng thế kỷ 14 và 15-18. Ngoài ra, còn có một số mảnh thuộc sứ Đồng Nai - Biên Hoà cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20.

 

Ảnh các hiện vật khảo cổ học được khai quật trên quần đảo Trường Sa kèm theo bài viết hiện được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Khánh Hòa. Chụp lại: Lê Bá Dương

3. Những tư liệu vật thật của khảo cổ học trên cho thấy, ở ven biển miền Nam Việt Nam trên đất liền cũng như trên các hải đảo đã có cư dân sinh sống liên tục từ thời tiền - sơ sử cho đến ngày hôm nay. Điều đó cũng cho thấy tầm quan trọng của biển đảo từ xưa đến nay cũng nhưlâu dài trong sự nghiệp xây dựng, bảo bệ và phát triển đất nước. Điều quan trọng đặc biệt là những tưliệu này là vô giá khẳng định chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải quốc gia.

Khảo cổ học đã tiến hành điều tra khảo cổ quần đảo Trường Sa vào năm 1993 -1994, khai quật có hệ thống trên đảo Trường Sa Lớn, Nam Yết vào năm 1995 và đảo Sơn Ca vào năm 1999. Các đảo khác đều được điều tra và thu lượm hiện vật trên mặt. Những tư liệu khảo cổ học thu được, chúng ta có thể khẳng định sự có mặt liên tục của người Việt Nam trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa.

Trên đảo Trường Sa Lớn, chúng ta đã phát hiện được những mảnh gốm thô có chất liệu, màu sắc, kỹ thuật chế tác tương tự như đồ gốm văn hoá Sa Huỳnh - một văn hoá thời đại Sắt phân bố rộng ở đất liền, miền Nam Trung bộ, Tây Nguyên, có niên đại tương đương với văn hoá Đông Sơn ở Bắc bộ và văn hoá Dốc Chùa ở Nam bộ. Những nghiên cứu khảo cổ học còn cho biết, trên đảo Palawan, một hòn đảo thuộc Phillippin, gần đảo Trường Sa, các nhà khảo cổ học Phillippin đã tìm thấy di tích văn hoá Sa Huỳnh, trong đó có khuyên tai hai đầu thú. Văn hoá Sa Huỳnh đã lan toả đến Phillippin thì gốm Sa Huỳnh có mặt ở Trường Sa là hiển nhiên.

Cùng với gốm thô Sa Huỳnh, trên đảo Trường Sa Lớn và Nam Yết, chúng ta đã phát hiện được đồ gốm sứ Việt Nam thuộc các thế kỷ muộn hơn. Có thể thấy, đồ gốm sứ thuộc 2 giai đoạn: Trước thế kỷ 15 và sau thế kỷ 15 đến thế kỷ 18. Nhóm có niên đại trước thế kỷ 15, có đặc trưng là hoa văn khắc chìm dưới men. Men phủ bên ngoài có màu vàng chanh, trôn có bôi sôcôla mà số lượng không nhỏ có nguồn gốc từ Bắc Việt Nam. Nhóm có niên đại muộn, tập trung vào các thế kỷ 17-18, chủ yếu là sứ hoa lam, được làm từ cao lanh, bên ngoài phủ men tro, màu lam vẽ chìm dưới men.

Trên đảo Nam Yết và Song Tử Tây, qua điều tra đã thu được 16 đồng tiền thời Nguyễn, có niên hiệu Minh Mạng và Tự Đức. Sự có mặt của tiền kim loại thời Nguyễn trên các đảo này, rất phù hợp với những ghi chép của Lê Quý Đôn trong Phủ Biên tạp lục, viết năm 1776. Theo Lê Quý Đôn, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã lập những đội Hoàng Sa và Bắc Hải để đến các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Côn Lôn cũng như các đảo ở Hà Tiên để thu hải sản và các sản vật của những tàu đắm. Tuy nhiên, với các hiện vật thu được trong các hố khai quật ở Trường Sa, cho thấy sự có mặt của người Việt Nam trên các đảo này còn sớm hơn nhiều, ít ra là từ cuối thời Trần.

Những tư liệu khảo cổ học trên quần đảo Trường Sa và các đảo ven bờ đã đưa lại những kết quả to lớn. Chúng ta có thể khẳng định rằng, đã tìm thấy những chứng cứ khoa học hiển nhiên về các hoạt động trên biển cả của cư dân tiền sử Việt Nam cũng như của người Việt Nam trong lịch sử. Những tư liệu này cũng hiển nhiên góp phần khẳng định chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của Việt Nam tại Biển Đông.

TS. Lại Văn Tới

© Văn hóa Online
Cơ quan chủ quản: Báo Văn Hóa - Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch
Giấy phép Báo điện tử số: 375/GP - BC, cấp ngày: 12/12/2006
Tòa soạn: 124 Nguyễn Du; Điện thoại: 04.38220036; Email: baovanhoa@fpt.vn
® 2006 Bản quyền thuộc về Báo Văn Hóa. Ghi rõ nguồn "Báo Văn Hóa" khi phát hành lại thông tin từ website này.