Tổ quốc nhìn từ phía Trường Sa

VHO - Đêm cuối năm Người lính chúng tôi vẫn bồng súng đứng gác ở đảo Trường Sa. Thẳng phía Tây kia là dải đất liền thân thương cong cong hình chữ S; cũng có người ví chỗ nhiều bão gió nhất, nhô ra biển xa nhất là nơi đặt lên vai gầy của Mẹ, Mẹ đang gánh hai đầu đất nước nặng trĩu vai. Còn xung quanh chúng tôi là biển, trời, đảo nổi, đảo chìm, thềm lục địa - một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc.

Tổ quốc nhìn từ phía Trường Sa - Anh 1

Ảnh: Trần Mạnh Tuấn

Xa, xa lắm! 248 hải lý từ Trường  Sa đến Cam Ranh, 305 hải lý từ  Trường Sa đến Vũng Tàu. Trong  màn đêm bịt bùng cuối năm vắng  trăng, chúng tôi không thể nhìn thấy  dải đất liền của Mẹ. Và nếu có ước  muốn đổi đêm làm ngày ngay tức  khắc, cũng không nhìn thấy dải đất  liền hùng vĩ. Nhưng, chúng tôi cảm  nhận được, chúng tôi lưu giữ được  hình ảnh phần đất liền Tổ quốc yêu thương. 
Tết này, mẹ lại xoè bàn tay bấm đốt. Đốt nhớ cúng lễ ngày 23  tháng Chạp tiễn ông Táo lên  Giời. Đốt thương đứa cả nằm  lại ở cánh rừng nào ở chiến trường Campuchia đến nay  vẫn chưa về làng ăn Tết.  
Đốt thở dài, thương đứa út ở quần đảo Trường Sa  điện thoại cho mẹ và vợ  con chúc Tết, chứ không  được về nhà. Khổ thân, ở  ngoài đó nắng nóng, bánh chưng tàu chở ra liệu có  để được đến Giao thừa? Đốt dặn  con dâu trưởng một đời chờ chồng  ngóng con, mua lá rong chọn lá bánh  tẻ rộng bản, đồ đậu xanh, vo gạo nếp  gói bánh chưng kịp Giao thừa. Đốt  ngong ngóng đứa con rể đóng quân  tận biên giới Tây Nam chiều cuối  năm rồi, nó đã về chưa mà chưa thấy  sang chào. Đốt nhắc đứa áp út là Xã  đội trưởng trực đêm ba mươi nhớ  sáng mùng một Tết về sớm xông  nhà; rồi đưa mẹ ra nghĩa trang thắp hương mộ bố, mộ vọng anh cả, đừng  quên mang nhiều hương, để đủ thắp  cho bạn bố, bạn anh cả mỗi người  một nén... Mẹ bấm hết đốt ngón tay  này, đến đốt ngón tay kia rồi bấm  lại. Chao ơi! Bao nhiêu nhớ nhung,  bao nhiêu dặn dò, nhắc nhở là bấy  nhiêu lần bấm đốt ngón tay.  
Những chuyến tàu HQ chở lương  thực, thực phẩm, nước ngọt, chở  vật liệu, cây xanh, hạt giống, thư  báo... lúc ngày thường trong mùa  biển lặng; những chuyến tàu  chở gạo nếp, đậu xanh, lá rong, bánh  kẹo mứt Tết, báo Xuân... giữa mùa  biển động là nhịp cầu nối đảo với đất  liền. Trường Sa không xa đâu! Người  lính giữ đảo gần đất liền lắm. Mẹ Việt  Nam ơi! Đất liền lúc nào cũng nhớ  thương chúng tôi vất vả. Đành rằng:  Quần đảo Trường Sa bao gồm hơn 100 đảo chìm đảo nổi, bãi ngầm, bãi  đá san hô nằm lập lờ hoặc nhô lên  mặt nước khi thuỷ triều xuống thấp,  bao bọc cả vùng Biển Đông rộng ước  chừng gần 200 ngàn km2. Khu vực  quần đảo - nơi sinh ra các cơn bão  Biển Đông, nên đôi khi còn gọi là  Quần đảo bão tố. Đành rằng: Nắng  nóng. Hơi nước mặn. Thiếu nước  ngọt. Gió bão mạnh... là đặc điểm  của quần đảo Trường Sa. Đảo Sơn  Ca, Sinh Tồn, Trường Sa, Trường Sa  Đông, An Bang... luôn luôn có các  doi cát bị gió thổi làm thay đổi hình  dáng và di chuyển theo mùa. Đành  rằng: Người lính đảo thường quanh  năm vắng khách, tìm một dáng hình con gái, một làn tóc mây thơm mùi  hương sả, hương chanh thật là hiếm  hoi; chỉ ngong ngóng trông mùa  biển lặng tháng Tư văn công đi cùng  Đoàn công tác ra thăm đảo. Quả  thật! Không có nơi nào như nơi đây:  Người lính đảo đọc thư, đọc báo truy  lĩnh ba tháng một lần, đôi khi tới 6  tháng mới có hơi đất liền. Hỏi có nơi  đâu như ở các đảo này: Không chợ  búa, không rạp chiếu phim, nhà hát,  vũ trường, không có chuyện dập dìu,  đưa đón người yêu lúc cuối chiều,  cuối tuần. Đành rằng: Người lính  không chỉ giữ biển đảo mà còn đi  cứu thuyền dân, giúp  tầu nước ngoài bị  nạn, san sẻ cho  họ từng gói mì  tôm, bó rau tươi  tự túc từ “vườn  treo Ba bi lon” trên nhà dàn và những xô  nước ngọt quý hiếm...  
Đành rằng: Có những lúc  bão dập mưa chan, sóng  lừng đánh nghiêng nhà  dàn DK. Sóng đánh tung  6 chiến sĩ mình xuống  biển. Đêm đen. Đói.  Lạnh. Sáu người lính  kết lại, dìu nhau, thuỷ  chiến với Biển Đông  giông bão. Nhưng sức  người có hạn, kiệt sức  và cô đơn, chốc chốc  lại một người chìm vào bão biển đêm  đen. Tàu ra khơi ngay trong đêm  tìm kiếm, chỉ cứu được hai người.  Những người lính hy sinh dũng cảm,  bi tráng giữa thời bình. Những năm  sau, như một lễ nghi thành kính  trang nghiêm đi biển, các tàu HQ đi  qua vùng biển này đều dừng lại, neo  tàu. Thả hoa. Thắp hương. Thành  kính tưởng niệm những đồng đội  mãi mãi yên nghỉ trong lòng biển...  Nhưng, những vất vả hy sinh thời  bình đâu chỉ có người lính chúng tôi  giữ biển đảo.

Đêm nay, Trường Sa,  đêm cuối năm 

Gió vẫn thổi vun cát vào tận chiến  hào công sự. Gió vẫn mạnh, sóng  vỗ ồn ào nhưng biển ấm. Chúng tôi  đứng gác có thể nhận biết được đâu  chòm sao Bắc Đẩu, đâu sao Thần  Nông và phỏng đoán mùa màng  được hay mất. Chúng tôi sum vầy  trước màn hình hồi hộp nghe đọc  thơ mùa Xuân khi mỗi dịp Tết về,  hoặc lòng xốn sang, hoặc lòng bâng  khuâng lúc Giao thừa rưng rưng nhớ  mẹ. Dĩ nhiên, lúc này chúng tôi sẽ  không vất vả như các chiến sĩ biên phòng mặc áo bông đạp đá tai mèo đi  dọc đường biên. Lá rừng thẫm sương  lạnh. Tay cóng buốt. Rắn độc. Muỗi,  vắt..., những thử thách đầu tiên và truyền đời người lính miền biên  viễn. Hơn 500 đồn biên phòng dải  dọc đường biên sẽ là hơn 500 điểm  sáng ấm nóng đón Giao thừa nơi  rừng núi, bờ biển, hải đảo. Nhưng  sẽ có bao nhiêu chiến sĩ không được  đón Giao thừa cùng đồng đội đang đi  cắm bản, ngồi bên ché rượu cần tập  hát Hơ ri, Hơ mon, tập kể Khan giữa  đại ngàn Tây Nguyên? Bao nhiêu  chiến sĩ thổi Pílèng, khèn Mông trong  chiều ba mươi Tết nơi núi rừng Tây  Bắc, Việt Bắc? Chúng tôi chia sẻ nhọc  nhằn với những người lính hành quân  đi ngược chiều gió thổi về với rừng  sâu rừng già trong tháng cuối năm.  Những người lính ấy cũng không ở nhà đón Giao thừa như chúng tôi. Chỉ  có khác: Chúng tôi ở phía biển đảo,  còn họ ở phía núi rừng, khoác ba lô,  gùi đậu xanh, lá rong, gạo nếp, rượu  vang, bánh kẹo... về buôn làng, ăn  Tết với bà con dân tộc ít người Ba Na,  Ja Rai, Ê Đê, Xê đăng, Khmer, hay  người Thái, Mường, Tày, H’Mông...  
Thế trận lòng dân, phên dậu cũng lòng dân. Đến với dân không  chỉ là ân nghĩa những năm cách  mạng khó khăn đói cơm lạt  muối, người dân hiến tặng cả gùi  ngô giống, cả lon gạo cuối cùng  mà còn là đạo lý, tình người, giữ  dân giữ đất. Người lính Trường  Sa chúng tôi tự hào vì những  đồng đội đằm mình trong nước  mặn giá rét cứu dân, cứu nhà  trong cơn bão biển.Những người  lính đi ngược dòng nước cứu dân  thoát khỏi lũ đâm, lũ ống, lở núi  sập nhà. Hoá ra người lính thời  bình vẫn chưa được ngủ yên.  

Đêm đã vào sâu.  Sắp đến thời khắc Giao thừa  

Biển quanh chúng tôi vẫn oằm  oặp sóng vỗ. Những cây phong  ba vừa rùng mình đón gió xuân  xao xác. Đất, cát san hô dưới chân đang xôn xao. Một lá bàng  vuông khô xác vừa khẽ tách khỏi  cành chao xuống đất, để cho  chồi non sắp mọc lên chuẩn bị  đón xuân sang. Đêm nay - đêm  cuối năm, các đảo ở Trường Sa  để đèn suốt đêm... 

Tổ quốc nhìn từ phía Trường Sa - Anh 2

Canh biển trời cho đất nước đón Xuân. Ảnh: Trần Mạnh Tuấn


Nhìn về phía đất liền, người  lính chúng tôi hình dung các  binh thuyền mỏng manh của  cha ông đang lướt sóng: Thủy  quân sức rẻo dai. Biển lớn giông  ba. Hàng trăm năm trước, cha  ông ta đã đến và giữ nơi này. Bao  nhiêu con tàu đắm, bao nhiêu  người nằm lại biển khơi? Chẳng  thể nào biết được! Ốc hoa, ốc  tai voi, ốc sà cừ, ốc hương, đồi  mồi, hải ba, và đồ đồng, đồ  vàng bạc, đại bác, tiểu bác trên  các tầu đắm..., chỉ là một phần  khai thác, thu lượm của ông cha.  Trong các chuyến đi ấy, còn có  công việc giữ chủ quyền biển  đảo. Ngày xưa, Đỗ Bá viết Thiên  Nam tư chí lộ đồ thu (1630 -  1635), Lê Quý Đôn viết Phủ biên  tạp lục (1776), Phan Huy Chú  viết Lịch triều hiến chương loại  chí (1821) mô tả Trường Sa, ghi  chép việc nhà nước phong kiến  Việt Nam thực hiện chủ quyền  quần đảo này. Chắc hẳn các ông  không hình dung nổi sau mấy  trăm năm, người lính thời đại  @ của nền kinh tế thị trường hội  nhập toàn cầu sẽ giữ biển đảo và  sống ở Trường Sa ra sao? Không  còn các thuỷ binh 20 người một  thuyền vượt sóng ra Trường Sa  vẽ bản đồ, dựng bia chủ quyền và trồng cây ngày xưa... Chúng  tôi đang đi trên đường ông cha  đã đi, nhưng không phải bằng  súng dài đạn nhồi thuốc phân  rơi, thuyền gỗ, đi biển dùng mắt  thường nhìn sóng gió, nhìn sao  trời, mà là tàu sắt HQ hiện đại  vượt đại dương mọi thời tiết và  bằng ý chí dựng nước, giữ nước  mấy ngàn năm. Chúng tôi giữ  đảo có tầu hộ vệ tên lửa ra khơi,  tầu ngầm kilo Project 636 lặn  trong lòng biển trong thế hợp  đồng quân binh chủng. Chúng  tôi đang sống và cầm súng ở đảo  bằng các vũ khí chiến lược hiện  đại đủ sức bảo vệ biển đảo Tổ  quốc. Không thể nói hết được! 
Chỉ biết, người lính Trường Sa  đến đợt thay quân, lính mới đến,  lính cũ về; dù ở hay đi họ vẫn  đang sống những ngày tháng rất có ý nghĩa.  
Nước ngọt ở các đảo đều có bể chứa, tuy thiếu nhưng đã qua  rồi cái thời chắt chiu từng giọt.  Đất từ quê mẹ theo các đoàn công tác mang ra từng túi, từng bì... tích tiểu thành đại cho đảo  nhỏ giữa khơi xa lúc nào cũng  có hơi ấm đất liền. Cây xanh, hạt rau giống theo người lính  trả phép về đảo. Ở đảo nào cũng thấy khu đất che chắn gió trồng  rau xanh; vườn rau ở nhà dàn là  các ô gỗ đựng đất treo lên cao trồng rau rền, rau muống, rau  sam, rau ngót... Người lính giữ  biển đào thừa trí tưởng tượng và  tính lãng mạn gọi các hộp treo, quang gánh treo ngàn ngạt rau và lủng lẳng quả bầu bí, su su  ngon lành là “vườn treo Ba bi  lon”. Dù khan hiếm, mỗi tuần người lính đã được ăn rau xanh hai lần. Bữa cơm, chất tươi tăng dần và đồ hộp, đồ khô bớt đi... Màu xanh của cây phong ba,  bão táp, của bàng, dừa, mù u... đã phủ lên Trường Sa, Trường  Sa Đông, Sơn Ca, Nam Yết...  Các đảo chìm như Tiên Nữ, Đá Lát, Thuyền Chài, Đá Lớn, Đá  Nam... đã làm nhà kiên cố; và các nhà dàn DK cao hơn mặt  nước biển 20 m. Chỉ có thể bắt  gặp màu xanh ở áo người lính, màu xanh ở các ô gỗ, ô nhựa  composte đựng đất trồng rau... Cái màu xanh khát khao, ít ỏi,  quý hiếm là một phần không thể  thiếu được trong đời sống vật chất và tinh thần của người lính  đảo chúng tôi...Các đảo Trường  Sa lớn, Sinh Tồn, Song Tử Tây  đã xây chùa làng và có dân, có lớp học. Chúng tôi có cảm giác biển đảo không xa đất liền, mà còn thấy như đang ở làng mình, quê mình. Trường Sa không xa  đâu, Trường Sa vẫn mãi mãi là  máu thịt của Đất Mẹ Việt Nam. 

Đứng gác đêm Giao thừa ở Trường Sa  

Thời khắc Giao thời hai năm  cũ mới đã đến rồi. Xốn xang.  Bâng khuâng. Nhớ nhung. Người  lính chúng tôi nhớ mẹ, nhớ nhà,  nhớ người thân..., mà vẫn không  quên nơi đứng gác. Nơi ấy cũng  là Tổ quốc, Người lính nhìn từ  phía Trường Sa.

Tùy bút của SƯƠNG NGUYỆT MINH

Ý kiến bạn đọc